Giới thiệu chung: Đau nữa đầu còn gọi là migraine bao gồm những cơn đau kịch phát, tái diễn không theo chu kỳ nhất định, thường kèm theo những rối loạn về thị giác và rối loạn tiêu hóa. Đau nữa đầu là một cơn bệnh khó chịu đang hành hạ khoảng 20% dân số nhân loại, không phân biệt giới tính, nguồn gốc, tuổi tác. Bệnh đặc biệt trầm trọng đối với những phụ nữ ở độ tuổi 20 đến 40.
Triệu chứng:
Bệnh nhân thường trải qua một giai đoạn suy sụp về tinh thần, buồn phiền, bứt rứt, biếng ăn, hoa mắt, buồn nôn. Những triệu chứng này có thể xảy ra liền trước cơn nhức đầu hoặc đồng thời với những cơn nhức đầu. Trong khi nhức đầu, bệnh nhân thường thấy buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn, sợ những kích thích và muốn được yên tĩnh. Cơn nhức đầu xảy ra ở một bên đầu, bên phải hoặc bên trái và thường chỉ xảy ra ở một bên đó đối với mỗi bệnh nhân. Hãn hữu ở một số rất ít bệnh nhân cơn nhức đầu có thể xảy ra ở bên đối diện hoặc nhức cả hai bên.
Khi cơn nhức đầu xảy ra, các mạch máu ngoại biên ở vùng đầu có liên quan thường nổi rõ lên. Những khảo cứu của y học hiện đại cho thấy biên độ của sóng mạch gia tăng . Điều này phù hợp với hiện tượng mạch của bệnh nhân chuyển từ trầm huyền hoặc trầm tế sang thành huyền khẩn hoặc phù huyền sác lúc cơn đau dữ dội nổi lên. Một số nhà khoa học cho rằng những bệnh nhân đã bị đau nữa đầu nhiều năm thường dẫn đến áp huyết cao và tổn thương thận . Kết quả này cũng phù hợp với những lý luận về hư hỏa và âm hư của y học cổ truyền.
Thông thường ở bệnh đau nữa đầu, dù trong cơn đau hay sau cơn đau người bệnh đều cảm thấy đau nhói nếu bị ấn nhẹ vào hai huyệt phong trì và đồng tử liêu. Phong trì ở phía sau tai, chỗ lõm ở ngang chân tóc. Đồng tử liêu nằm ở chỗ hõm ở bờ ngoài đuôi mắt. Cả hai huyệt vị này đều nằm trên kinh Túc Thiếu Dương Đởm.
Biện chứng:
Theo nội kinh "Can khai khiếu ở mắt", huyền là mạch của Can Đởm. Vùng và huyệt vị bị tổn thương do kinh Túc Thiếu Dương Đởm chi phối. Do đó, ở bệnh nhân đau nữa đầu, triệu chứng quá vượng của Can Đởm rất rõ nét. Can âm hư, Can dương xung gây ra một số triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh thuộc dương chứng. Biếng ăn, buồn nôn là do Can Đởm ( thuộc mộc) khắc Tỳ Vị (thuộc thổ) dẫn đến rối loạn tiêu hóa. Đây là một biểu hiện mà y học cổ truyền gọi là Can phạm Vị. Theo học thuyết kinh lạc, Dương phải thường giáng và Âm phải thường thăng. Trường hợp này, kinh khí ở kinh Túc Thiếu Dương Đởm đã nghịch chuyển gây ra những dấu hiệu đặc trưng của thiếu dương chứng. Đó là đau đầu, hoa mắt, buồn nôn. Thiếu dương chứng thường được xem là những chứng bán biểu bán lý. Tuy nhiên, bệnh đã lâu, can huyết bị tổn thương nên thiên về lý. Hỏa đây là hư hỏa do âm hư mà ra.
Điều trị:
Trong bát pháp của y học cổ truyền thì phép hòa giải là phương pháp đối trị với những bệnh ở kinh thiếu dương nhằm sơ tiết can khí, giải biểu và điều hoà Can Tỳ. Đây là một bệnh mãn tính nên một điều quan trọng khác là phải bổ âm để tàng dương. Tuy nhiên trong bổ âm phải lưu ý đến kiện Tỳ vì những thuốc bổ âm tính mát có thể làm trệ Tỳ trong khi ở đây Tỳ Vị vốn đã suy yếu.
Bài thuốc:
Tiêu dao thang là một cổ phương có tác dụng hòa giải thường được dùng để chữa nhức đầu ở kinh Thiếu Dương. Thang dược này cũng thường được dùng để chữa những chứng bệnh suy nhược thần kinh, kinh nguyệt không đều, biếng ăn, khó ngủ, hay căng thẳng cáu gắt, đau tức hai hông sườn. Bài thuốc gồm: Sài hồ, Bạc hà, Sinh khương để sơ tiết Can khí, thư giải tà khí ở kinh lạc; Đương qui, Bạch thược để dưỡng huyết; Bạch linh, Bạch truật, Cam thảo để kiện Tỳ hòa Vị.
Sài hồ 12 gr Bạch thược 12 gr
Đương quy 12 gr Bạch truật 12 gr
Phục linh 12 gr Bạc hà 4 gr
Cam thảo 4 gr Sinh khương 4 gr (nướng qua)
Riêng vị Bạc hà phải bỏ vào sau cùng khi sắp lấy thuốc ra khỏi bếp. Sắc ba chén còn lại hơn nữa chén, uống thuốc lúc còn nóng. Chỉ cần uống một hoặc vài thang trước khi dùng những thang bổ âm ở phần sau.
Lý Âm Tiễn là một cổ phương có tác dụng bổ âm dưỡng huyết. Thục địa để bổ âm, Đương quy dưỡng huyết, Cam thảo hòa trung, Can khương sao đen, tẩm đồng tiện để liễm nạp dương khí ở trung và hạ tiêu, trừ hư hỏa.
Thục địa 16 gr
Đương quy 12 gr
Can khương 8 gr (sao ngoài đen, ruột ở giữa còn vàng, sao xong tẩm đồng tiện)
Cam thảo 4 gr (nướng)
Sắc ba chén còn lại gần một chén, chia làm hai lần uống trong một ngày, uống lúc thuốc còn nóng.
Tập Dương án của Hải Thượng Lãn Ông có ghi lại một phương thuốc đã chữa thành công cho một bệnh nhân nữ 34 tuổi bị nhức đầu trên 8 năm mà ông đã chẩn đoán là nhức đầu do âm hư khí uất.
Thục địa 320 gr Ngưu tất 80 gr
Đương quy 240 gr Ngủ vị 40 gr
Xuyên khung 120 gr (sao, tẩm đồng tiện)
Đây là một thang đại dược có phân lượng lớn, sắc đặc, chia ra uống làm vài lần trong một ngày. Y án có ghi rõ cách uống cho bệnh nhân nói trên. Uống sau khi đã làm việc được một lúc cho người nóng lên. Đối với người bệnh còn tương đối khỏe mạnh, cách uống này nhằm lợi dụng dương khí của người bệnh đang được phát động khi đang làm việc phối hợp với sức thuốc còn nóng để phát tán tà khí ở kinh lạc mà không cần những vị thuốc để giải biểu. Trong bài thuốc này Thục địa để bổ âm, Đương quy để dưỡng huyết, Xuyên khung để khai uất, sơ tiết Can khí, tẩm đồng tiện để giáng hư hỏa, Ngưu tất dẫn thuốc trở xuống, Ngủ vị để liễm nạp dương khí.
Thuốc Nam:
Rau má 12 gr Hương phụ 8 gr (sao, tẩm đồng tiện)
Thảo quyết minh 12 gr (sao thơm) Vỏ bưởI 8 gr (phơi khô, sao)
Rễ nhàu 12 gr
Sắc ba chén còn lại gần một chén chia làm hai lần uống trong một ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
Trong bài này, Rau má, Thảo quyết minh để bổ âm dưỡng huyết. Vỏ bưởi, Hương phụ để sơ Can, khai uất, kiện Tỳ. Rễ nhàu có thể thông kinh hoạt lạc và điều hòa thần kinh giao cảm nên rất hiệu quả trong những chứng nhức đầu.
Điều trị không dùng thuốc:
Theo y học cổ truyền, mỗi loại cảm xúc âm tính dẫn đến tổn thương một loại khí nhất định trong cơ thể con người, chẳng hạn "Tư thương Tỳ", "Khủng thương Thận", "Nộ thương Can". Tuy nhiên bất cứ một cảm xúc âm tính nào tác động lâu ngày đều ảnh hưởng đến Can khí, dẫn đến Can khí uất. Can khí uất là một đặc trưng của bệnh đau nữa đầu. Do đó những cảm xúc âm tính nói chung - còn gọi là "stress" - có liên quan chặt chẽ đến cơn đau nữa đầu. "Stress" có thể là yếu tố kích hoạt hoặc làm trầm trọng thêm những cơn đau. Ngược lại, những biện pháp làm thư giãn thần kinh & cơ như tập dưỡng sinh, luyện thở, ngồi thiền... sẽ trực tiếp hóa giải "stress" và làm sơ tiết Can khí nên có thể làm thưa dần, làm nhẹ đi, và cuối cùng làm chấm dứt hẳn những cơn đau nữa đầu. Ngoài ra, theo quy luật "thần tĩnh tất âm sinh", việc thư giãn, nhập tĩnh không những làm thư giãn khí uất mà còn có tác dụng sinh âm, bổ âm, nên đáp ứng được yêu cầu thứ hai của việc điều trị bệnh đau nữa đầu.
Các bước:
Bước 1
Đau nữa đầu còn gọi là migraine bao gồm những cơn đau kịch phát, tái diễn không theo chu kỳ nhất định, thường kèm theo những rối loạn về thị giác và rối loạn tiêu hóa. Đau nữa đầu là một cơn bệnh khó chịu đang hành hạ khoảng 20% dân số nhân loại, không phân biệt giới tính, nguồn gốc, tuổi tác. Bệnh đặc biệt trầm trọng đối với những phụ nữ ở độ tuổi 20 đến 40.
Triệu chứng:
Bệnh nhân thường trải qua một giai đoạn suy sụp về tinh thần, buồn phiền, bứt rứt, biếng ăn, hoa mắt, buồn nôn. Những triệu chứng này có thể xảy ra liền trước cơn nhức đầu hoặc đồng thời với những cơn nhức đầu. Trong khi nhức đầu, bệnh nhân thường thấy buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn, sợ những kích thích và muốn được yên tĩnh. Cơn nhức đầu xảy ra ở một bên đầu, bên phải hoặc bên trái và thường chỉ xảy ra ở một bên đó đối với mỗi bệnh nhân. Hãn hữu ở một số rất ít bệnh nhân cơn nhức đầu có thể xảy ra ở bên đối diện hoặc nhức cả hai bên.
Khi cơn nhức đầu xảy ra, các mạch máu ngoại biên ở vùng đầu có liên quan thường nổi rõ lên. Những khảo cứu của y học hiện đại cho thấy biên độ của sóng mạch gia tăng . Điều này phù hợp với hiện tượng mạch của bệnh nhân chuyển từ trầm huyền hoặc trầm tế sang thành huyền khẩn hoặc phù huyền sác lúc cơn đau dữ dội nổi lên. Một số nhà khoa học cho rằng những bệnh nhân đã bị đau nữa đầu nhiều năm thường dẫn đến áp huyết cao và tổn thương thận . Kết quả này cũng phù hợp với những lý luận về hư hỏa và âm hư của y học cổ truyền.
Thông thường ở bệnh đau nữa đầu, dù trong cơn đau hay sau cơn đau người bệnh đều cảm thấy đau nhói nếu bị ấn nhẹ vào hai huyệt phong trì và đồng tử liêu. Phong trì ở phía sau tai, chỗ lõm ở ngang chân tóc. Đồng tử liêu nằm ở chỗ hõm ở bờ ngoài đuôi mắt. Cả hai huyệt vị này đều nằm trên kinh Túc Thiếu Dương Đởm.
Biện chứng:
Theo nội kinh "Can khai khiếu ở mắt", huyền là mạch của Can Đởm. Vùng và huyệt vị bị tổn thương do kinh Túc Thiếu Dương Đởm chi phối. Do đó, ở bệnh nhân đau nữa đầu, triệu chứng quá vượng của Can Đởm rất rõ nét. Can âm hư, Can dương xung gây ra một số triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh thuộc dương chứng. Biếng ăn, buồn nôn là do Can Đởm ( thuộc mộc) khắc Tỳ Vị (thuộc thổ) dẫn đến rối loạn tiêu hóa. Đây là một biểu hiện mà y học cổ truyền gọi là Can phạm Vị. Theo học thuyết kinh lạc, Dương phải thường giáng và Âm phải thường thăng. Trường hợp này, kinh khí ở kinh Túc Thiếu Dương Đởm đã nghịch chuyển gây ra những dấu hiệu đặc trưng của thiếu dương chứng. Đó là đau đầu, hoa mắt, buồn nôn. Thiếu dương chứng thường được xem là những chứng bán biểu bán lý. Tuy nhiên, bệnh đã lâu, can huyết bị tổn thương nên thiên về lý. Hỏa đây là hư hỏa do âm hư mà ra.
Điều trị:
Trong bát pháp của y học cổ truyền thì phép hòa giải là phương pháp đối trị với những bệnh ở kinh thiếu dương nhằm sơ tiết can khí, giải biểu và điều hoà Can Tỳ. Đây là một bệnh mãn tính nên một điều quan trọng khác là phải bổ âm để tàng dương. Tuy nhiên trong bổ âm phải lưu ý đến kiện Tỳ vì những thuốc bổ âm tính mát có thể làm trệ Tỳ trong khi ở đây Tỳ Vị vốn đã suy yếu.
Bài thuốc:
Tiêu dao thang là một cổ phương có tác dụng hòa giải thường được dùng để chữa nhức đầu ở kinh Thiếu Dương. Thang dược này cũng thường được dùng để chữa những chứng bệnh suy nhược thần kinh, kinh nguyệt không đều, biếng ăn, khó ngủ, hay căng thẳng cáu gắt, đau tức hai hông sườn. Bài thuốc gồm: Sài hồ, Bạc hà, Sinh khương để sơ tiết Can khí, thư giải tà khí ở kinh lạc; Đương qui, Bạch thược để dưỡng huyết; Bạch linh, Bạch truật, Cam thảo để kiện Tỳ hòa Vị.
Sài hồ 12 gr Bạch thược 12 gr
Đương quy 12 gr Bạch truật 12 gr
Phục linh 12 gr Bạc hà 4 gr
Cam thảo 4 gr Sinh khương 4 gr (nướng qua)
Riêng vị Bạc hà phải bỏ vào sau cùng khi sắp lấy thuốc ra khỏi bếp. Sắc ba chén còn lại hơn nữa chén, uống thuốc lúc còn nóng. Chỉ cần uống một hoặc vài thang trước khi dùng những thang bổ âm ở phần sau.
Lý Âm Tiễn là một cổ phương có tác dụng bổ âm dưỡng huyết. Thục địa để bổ âm, Đương quy dưỡng huyết, Cam thảo hòa trung, Can khương sao đen, tẩm đồng tiện để liễm nạp dương khí ở trung và hạ tiêu, trừ hư hỏa.
Thục địa 16 gr
Đương quy 12 gr
Can khương 8 gr (sao ngoài đen, ruột ở giữa còn vàng, sao xong tẩm đồng tiện)
Cam thảo 4 gr (nướng)
Sắc ba chén còn lại gần một chén, chia làm hai lần uống trong một ngày, uống lúc thuốc còn nóng.
Tập Dương án của Hải Thượng Lãn Ông có ghi lại một phương thuốc đã chữa thành công cho một bệnh nhân nữ 34 tuổi bị nhức đầu trên 8 năm mà ông đã chẩn đoán là nhức đầu do âm hư khí uất.
Thục địa 320 gr Ngưu tất 80 gr
Đương quy 240 gr Ngủ vị 40 gr
Xuyên khung 120 gr (sao, tẩm đồng tiện)
Đây là một thang đại dược có phân lượng lớn, sắc đặc, chia ra uống làm vài lần trong một ngày. Y án có ghi rõ cách uống cho bệnh nhân nói trên. Uống sau khi đã làm việc được một lúc cho người nóng lên. Đối với người bệnh còn tương đối khỏe mạnh, cách uống này nhằm lợi dụng dương khí của người bệnh đang được phát động khi đang làm việc phối hợp với sức thuốc còn nóng để phát tán tà khí ở kinh lạc mà không cần những vị thuốc để giải biểu. Trong bài thuốc này Thục địa để bổ âm, Đương quy để dưỡng huyết, Xuyên khung để khai uất, sơ tiết Can khí, tẩm đồng tiện để giáng hư hỏa, Ngưu tất dẫn thuốc trở xuống, Ngủ vị để liễm nạp dương khí.
Thuốc Nam:
Rau má 12 gr Hương phụ 8 gr (sao, tẩm đồng tiện)
Thảo quyết minh 12 gr (sao thơm) Vỏ bưởI 8 gr (phơi khô, sao)
Rễ nhàu 12 gr
Sắc ba chén còn lại gần một chén chia làm hai lần uống trong một ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
Trong bài này, Rau má, Thảo quyết minh để bổ âm dưỡng huyết. Vỏ bưởi, Hương phụ để sơ Can, khai uất, kiện Tỳ. Rễ nhàu có thể thông kinh hoạt lạc và điều hòa thần kinh giao cảm nên rất hiệu quả trong những chứng nhức đầu.
Điều trị không dùng thuốc:
Theo y học cổ truyền, mỗi loại cảm xúc âm tính dẫn đến tổn thương một loại khí nhất định trong cơ thể con người, chẳng hạn "Tư thương Tỳ", "Khủng thương Thận", "Nộ thương Can". Tuy nhiên bất cứ một cảm xúc âm tính nào tác động lâu ngày đều ảnh hưởng đến Can khí, dẫn đến Can khí uất. Can khí uất là một đặc trưng của bệnh đau nữa đầu. Do đó những cảm xúc âm tính nói chung - còn gọi là "stress" - có liên quan chặt chẽ đến cơn đau nữa đầu. "Stress" có thể là yếu tố kích hoạt hoặc làm trầm trọng thêm những cơn đau. Ngược lại, những biện pháp làm thư giãn thần kinh & cơ như tập dưỡng sinh, luyện thở, ngồi thiền... sẽ trực tiếp hóa giải "stress" và làm sơ tiết Can khí nên có thể làm thưa dần, làm nhẹ đi, và cuối cùng làm chấm dứt hẳn những cơn đau nữa đầu. Ngoài ra, theo quy luật "thần tĩnh tất âm sinh", việc thư giãn, nhập tĩnh không những làm thư giãn khí uất mà còn có tác dụng sinh âm, bổ âm, nên đáp ứng được yêu cầu thứ hai của việc điều trị bệnh đau nữa đầu.
Bước 2
Hiểu thêm về bệnh đau nửa đầu
Bệnh đau nửa đầu rất khó chịu, thường đi kèm với buồn nôn và hay tái phát. Những dấu hiệu báo trước khi cơn đau nửa đầu tấn công như mạch đập nhanh, hoa mắt,... TS-BS Phương Thảo (Khoa Nội Thần kinh - Bệnh viện ND Gia Định, TP.HCM) sẽ giúp độc giả hiểu rõ thêm về căn bệnh này.
Bệnh thường gặp ở phụ nữ
Đau nửa đầu là một trường hợp đặc biệt thuộc nhóm đau đầu mãn tính, hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta thường gọi là đau đầu Migraine. Về cơ chế bệnh được xếp vào nhóm đau đầu do nguyên nhân mạch máu não. Như có sự co giãn bất thường của hệ thống mạch máu não một bên.
Bệnh đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, nhất là nữ giới trong công sở tỷ lệ 2/1. Về cơ chế gây bệnh giữa nam và nữ có sự khác nhau rõ rệt. Đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ dưới 45 tuổi, hiếm gặp ở tuổi già và trẻ em. Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác về tỷ lệ mắc bệnh này trên thế giới.
Tuy nhiên nghiên cứu của các nhà Thần kinh học của Mỹ cho thấy khoảng 15 - 20 phụ nữ tuổi dưới 45 thường có một người mắc bệnh, chiếm tỷ lệ từ 5 - 6,7%. Riêng ở Việt Nam chưa có số liệu chính xác. Mặc dù vậy, qua thực hành lâm sàng thì đây cũng là bệnh thường gặp trong bệnh lý thần kinh ở các nước Châu Á cũng như ở Việt Nam.
Đau nửa đầu biểu hiện trên lâm sàng thường xảy ra từng cơn với tính chất: Cơn đau nửa đầu kéo dài từ 4 - 72 giờ, có thể lần lượt đổi bên (không cố định bên nào), có hiện tượng mạch đập mạnh ở vùng thái dương. Mức độ đau có thể vừa hoặc dữ dội tùy theo từng bệnh nhân và đau tăng lên khi gắng sức và có triệu chứng nôn hoặc buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động.
Đây là trường hợp đau nửa đầu điển hình. Ngoài ra, còn gặp một một số đau không giống ai: Đau nửa đầu kèm theo mất ý thức, liệt mặt, liệt nửa người giống như triệu chứng của tai biến mạch máu não, rối loạn thị lực. Đây là bệnh có liên quan đến tiền sử gia đình. Nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được yếu tố di truyền nào liên quan đến bệnh này.
Phát hiện
Đau nửa đầu là loại bệnh không nguy hiểm đến tính mạng ngoại trừ các thể đặc biệt như biến chứng thần kinh. Mặc dầu vậy, những cơn đau nửa đầu dữ dội kéo dài làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc cũng như chất lượng cuộc sống.
Việc phát hiện và điều trị kịp thời là cần thiết vì hạn chế được các cơn đau gây khó chịu, lo lắng và hoảng hốt. Một điều cần chú ý khi điều trị đau nửa đầu là cần phải loại trừ các triệu chứng đau thuộc bệnh lý vùng hàm mặt như: Đau nửa mặt, (đau dây thần kinh số 5), sâu răng, và các bệnh lý khác của hàm mặt.
Các bệnh lý vùng tai mũi họng như viêm tai giữa, viêm tai xương chủm, và một số đau đầu có tính chất khu trú rất nguy hiểm như: U não, dị dạng mạch não... Các loại đau này thường kéo dài liên tục và không thành cơn như đau nửa đầu.
Việc điều trị bệnh này chia thành 2 bước chính: Điều trị cắt cơn đau khi đang có cơn đau, thường dùng thuốc Tartrate rgotamine dùng dạng viên uống hoặc dùng dạng tiêm và cần dùng ở giai đoạn sớm mới có tác dụng tốt.
Tuy nhiên không được dùng quá liều vì thuốc có thể dẫn đến hoại tử đầu chi, không được dùng cho phụ nữ đang có thai hoặc đang có kinh nguyệt, cũng như trường hợp nhiễm trùng nặng. Bắt buộc phải hỏi ý kiến bác sĩ thần kinh trước khi dùng. Điều trị nên được chỉ định khi tần suất các cơn đau dày, ít nhất có 3 cơn mỗi tháng. Thời gian điều trị ít nhất là 2 - 3 tháng kể cả khi không có cơn đau để tránh tái phát.
Phòng chống
Những người bị đau nửa đầu nên tránh dùng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, cà phê... tránh thức đêm và nhữg căng thẳng về tinh thần trong cuộc sống. Tập thể dục dưỡng sinh thường xuyên cũng có thể giảm được các triệu chứng. Chế độ ăn uống bình thường không ảnh hưởng đến bệnh này. Vì thế không cần kiêng khem quá với các loại thực phẩm thông thường.
Không nên tự ý điều trị khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Tuy nhiên khi lên cơn đau dữ dội mà không kịp đi khám, có thể dùng tạm các nhóm thuốc giảm đau thông thường như Alaxan, Miloxicam... để tạm thời làm giảm cơn đau và cần chú ý đến các tác dụng phụ do thuốc gây ra.
Điều trị
Để điều trị chứng đau nửa đầu có thể dùng thuốc ergotamine, sumatriptan và rizatriptan. Ngoài ra có thể dùng các loại thuốc ngăn ngừa để giảm tần số cơn đau nửa đầu. Thuốc giảm đau thường được dùng khi bắt đầu cơn đau gồm: aspirn, acetaminophen.
Đối với phụ nữ, liệu pháp hormene có thể giúp giảm cơn đau nửa đầu có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Khi bị đau, hãy cố nghỉ ngơi trong căn phòng tối và mát hoặc đi tắm dưới vòi hoa sen. Đắp khăn lạnh lên trán cũng có thể giảm nhẹ sự khó chịu.
Bước 3
16 bài thuốc chữa đau nửa đầu
Bài 1: Lá chè tươi 10g, xuyên khung 10g, nấu lấy nước uống hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu.
Bài 2: Lá dâu, hoa cúc, mỗi thứ 15g, nấu lấy nước uống hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu.
Bài 3: Ngân hoa 30g, bản lam căn 15g, nấu lấy nước uống thay nước trà trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu.
Bài 4: Ngưu bàng tử 30g, đường đỏ 30g, đem rang khô, nghiền thành bột ngưu bàng tử. Mỗi lần lấy ra 10g bột thuốc và 10g đường đỏ, pha với nước sôi uống lúc nóng. Uống liền 3 ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu. Khi uống thuốc thấy hơi ra mồ hôi là tốt.
Bài 5: Óc lợn 1 bộ, thiên ma 10g, đem nấu chín kĩ, để sôi 1 giờ thành nước đông đặc, vớt bỏ bã thuốc, đem ăn. Chủ trị: Đau nửa đầu.
Bài 6: Rau mùi tươi 30-60g, trứng gà 1 quả. Đem rau mùi rửa sạch nấu với 2 bát nước để còn 1 bát, vớt bỏ bã, đập trứng gà vào, đun tiếp cho chín thuốc để ăn. Chủ trị: Đau nửa đầu do bị bệnh thần kinh sinh ra.
Bài 7: Rễ cây rau cần (kể cả cần tây lẫn cần ta) 250g, trứng gà 2 quả, cho vào nấu 2 thứ, trứng chín, vớt ra bóc bỏ vỏ rồi lại cho vào nấu tiếp vài phút là được. Ăn cả nước lẫn cái. Chủ trị: Đau nửa đầu loại phong hỏa nhiễu loạn lên phía trên.
Bài 8: Lá dâu khô 6g, trứng gà 1 quả, nấu 2 thứ trên, trứng chín vớt ra, bóc bỏ vỏ rồi lại cho vào nấu tiếp vài phút là được. Ăn ngày 2 lần. Chủ trị: Đau nửa đầu do phong nhiệt bên ngoài xâm kích vào hoặc can kinh uất nhiệt gây nên.
Bài 9: Hoa mộc lan 10-12g, trứng gà 2 quả, nấu 2 thứ trên, trứng chín, vớt ra bóc bỏ vỏ rồi cho vào nấu tiếp vài phút là được. Ăn hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu do phong hàn gây nên.
Bài 10: Kinh giới 12 cây, trứng gà 2 quả, để kinh giới lên trên vung nồi cơm cho khô giòn, nghiền thành bột, trứng gà đem đục một lỗ hút lấy ít lòng trắng ra, cho bột kinh giới vào, sau đó lại lấy cái tăm tre khuấy cho bột thuốc hòa đều với nước trứng ở trong, xong lại bơm tiếp lòng trắng trứng đã hút ra vào cho đầy quả trứng, bên ngoài trát bịt bằng bột nhào với nước thành dạng hồ vữa, cho vào nung trong lửa cho chín trứng là được. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần 2 quả trứng. Chủtrị: Đau nửa đầu. Bài thuốc này chỉ dùng 3-4 lần là có hiệu quả rõ rệt như ý muốn.
Bài 11: Quả nhãn khô (để cả vỏ, cùi, hạt) 100g, trứng gà 2 quả, đường trắng lượng vừa đủ. Đem đập nát long nhãn, cho vào nồi, cùng với chút nước và trứng, nấu cho chín trứng, vớt ra bóc bỏ vỏ xong lại cho vào nấu tiếp 1 giờ cho chín thật kĩ, cho đường trắng vào khuấy đều là được. Chia 2 lần ăn hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu do huyết hư sinh ra.
Bài 12: Lá sen 1 tầu, trứng gà 2 quả, đường đỏ lượng vừa đủ. Nấu lá sen với trứng, trứng chín vớt ra bóc bỏ vỏ, lại cho vào nấu tiếp khoảng 1 giờ, sau cho đường đỏ vào cho tan đều, ăn hết trong ngày. Chủ trị đau nửa đầu do nội tạng bị thương tổn, dương khí trở tắc, trọc tà bốc lên trên sinh ra đau nửa đầu.
Bài 13: Lá dâu 10g, hoa cúc 10g, bạch chỉ 6g, nấu lấy nước thuốc uống hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu loại phong hỏa bốc lên trên làm nhiễu loạn, gây đau nửa đầu.
Bài 14: Đan sâm, ngưu tất, mỗi thứ 10g, hồng hoa 6g, nấu lấy nước uống hết trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu loại huyết trở lạc sinh ra.
Bài 15: Trần bì (vỏ quít khô), bán hạ, mỗi thứ 10g, phục linh 20g, nấu lấy nước thuốc uống thay nước uống trong ngày. Chủ trị: Đau nửa đầu loại đàm thấp trung trở.
Bài 16: Táo Trung Quốc 5g, thịt dê 1 kg, bột gạo 1 kg, bột đậu 1 kg, gừng tươi 10g; hồ tiêu, muối, mì chính vừa đủ. Trước hết rửa sạch táo, thịt dê; gừng, thái thịt dê thành miếng nhỏ, ninh chín dừ thịt; bột gạo và bột đậu hòa với nước thành dạng hồ vữa làm thành bánh,xong cho vào nồi nấu thịt cho chín kĩ bột, rồi cho hạt tiêu, muối, mì chính vào là được. Ăn như một món ăn trong bữa ăn. Chủ trị: Đau nửa đầu, toàn thân mệt mỏi rã rời, thở gấp gáp không ra hơi, không thiết gì nói năng, đi lại.
Bài viết liên quan: