Giới thiệu chung: Bốn pháp nạn của Phật giáo Trung Quốc
Nội dung:
Kỳ I - Suối Nguồn Số 5
Phật giáo được truyền vào Trung Quốc vào thời Hậu Hán, sau Khổng Lão khoảng năm thế kỉ, nhưng đã nhanh chóng thâm nhập vào mọi giai tầng xã hội. Từ đó trãi qua gần 1900 năm, đến cuối đời Thanh, Phật giáo vẫn phát triển, mà cực thịnh là vào đời Đường Tống. Đồng thể Tam bảo vẫn vĩnh hằng, xa lìa mọi biến động của thời không, nhưng Thế gian trụ trì Tam bảo thì vẫn phải chịu sự biến diệt, tức sự lưu thông và hoằng hóa của Đạo ở thế gian này vẫn có hưng suy. Tực tế trong gần 1900 năm, Phật giáo Trung Quốc đã trải qua nhiều lần hưng suy, nhưng sâu đậm nhất là bốn lần pháp nạn. Học giả Vương Chí Bình (Trung Quốc) trong tập Đế Vương Dữ Phật Giáo đã thuật lại bốn pháp nạn, đồng thời phân tích nguyên nhân dẫn khởi, và sự phục hưng sau đó. Tuy chưa đầy đủ và có nhiều nhận định chủ quan, nhưng tác giả cũng nêu lên các điểm quan trọng giúp chúng ta thấy được bức tranh diệt Phật của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Từ Suối Nguồn này trở đi, chúng tôi sẽ theo thứ tự trích đăng bốn thời kì pháp nạn.
Pháp nạn Thái Võ Đế triều Bắc Ngụy: Sau trận chiến ở Phì Thủy, triều đại Tiền Tần phương Bắc bị diệt vong; các bộ tộc thừa cơ nổi dậy tự định cương thổ. Trong đó, thủ lãnh của tộc Tiễn Ty là Thác-bạt Khuê, vào năm 386 đứng ra tổ chức đại hội toàn bộ tộc này tại Ngưu Xuyên (gần Hô-hòa-hạo-đặc thuộc Nội Mông ngày nay), tự xưng Đại vương, thành lập vương triều nhà Đại. Không bao lâu, Thác-bạt Khuê dời đô đến Thạnh Đông (tức Hòa-lâm-cách-nhĩ thuộc Nội Mông ngày nay), đổi xưng là Ngụy vương. Khoảng mười mấy năm sau, Thác-bạt Khuê dần dần tiêu diệt các chư hầu lân cận, không ngừng mở rộng bờ cõi. Năm 398, Thác-bạt Khuê dời đô về Bình Thành (Đại Đồng, Sơn Tây ngày nay), bỏ vương hiệu mà xưng là Bắc Ngụy Đạo Hoàng Đế, từ đó dần dần phát triển thành một triều đại phong kiến thống trị phương Bắc thời bấy giờ (thời Nam Bắc triều).
Do Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi ở phương Bắc Trung Quốc vào thời kì “Ngũ Hồ Thập Lục Quốc”[1] hình thành một thế lực nhất định, nên lúc mới lập quốc, Thác-bạt Khuê cũng không xem nhẹ Phật giáo. Theo sử ghi chép thì Ngụy Đế vừa thích thuật Hoàng Lão lại vừa rất thích xem đọc kinh Phật. Nhưng vì thiên hạ mới yên định, trăm việc cần phải làm, nên ông chưa đề cập đến việc xây dựng chùa viện, mời thỉnh tăng chúng. Nhưng trong thời gian chiến tranh, ông đặc biệt kính lễ tăng nhân. Bấy giờ có hòa thượng Tăng Lãng thông đạt Phật pháp, cùng với đồ chúng ẩn tu tại Kim Dư cốc ở Thái Sơn. Đạo Võ Đế nghe danh, liền gửi thư, tặng vải lụa, bát bằng bạc, đồng thời khen ngợi đạo đức của hòa thượng đồng non biển, thần toán cao xa, mời xuất sơn để cùng mưu định sách lược. Ngoài ra còn có ngài Pháp Quả, thông đạt được yếu chỉ hoằng dương Phật pháp. Sau khi Đạo Võ Đế lên ngôi không bao lâu, ngài Pháp Quả liền tôn xưng Đạo Võ Đế là Như Lai ở hiện đời, tất cả sa-môn đều phải kính lễ. Vì thế Đạo Đế càng đãi ngộ ngài Pháp Quả, phong làm Đạo Nhân Thống (giống như Tăng Chánh đời Hậu Tần, là chức vụ thống lãnh tăng ni trong nước). Việc sa-môn kính lễ vua chúa này đã biểu hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa Phật giáo và Nho giáo. Ngài Pháp Quả với thân hận tăng nhân yêu cầu sa-môn lễ kính vua chúa, trên một ý nghĩa nhất định nào đó đã phá bỏ mất nguyên tắc bền vững của Phật giáo. Nhưng ngài đưa ra việc này với một điều kiện như đã nói là xem Đạo Võ Đế như là Như Lai hiện đời, lễ Võ Đế tức lễ Như Lai. Từ điều kiện này mà sa-môn vừa có thể giữ vững nguyên tắc vừa thể hiện tánh linh hoạt, khiến Phật giáo tiếp tục phát triển trong xã hội Bắc triều.
Qua nhiều lần gặp gỡ các cao tăng đại đức, Đạo Võ Đế dần dần dốc lòng kính tôn Phật giáo. Lúc mới bình định phương Bắc, Võ Đế ban chiếu xây chùa lập tháp ở kinh đô, giúp cho tăng nhân và tín đồ có nơi cư trú. Như thế, vào thời kì đầu của triều Bắc Ngụy, Phật giáo đã có một vị trí quan trọng trong xã hội. Sau khi Đạo Võ Đế băng, thì con là Minh Nguyên Đế kế vị. Nguyên Đế kế thừa vua cha cũng tôn sùng Hoàng Lão, ưa thích Phật pháp, không những ban chiếu lập chùa tháp ở kinh đô và các nơi mà còn yêu cầu sa-môn hỗ trợ triều đình trong việc trị hóa nhân dân, dùng tín ngưỡng Phật giáo làm kế sách cho Vương quyền. Nguyên Đế rất kính trọng và ưu đãi ngài Pháp Quả, nhiều lần ban tặng tước hiệu như: Phụ Quốc Nghi Thành Tử, Trung Tín Hầu, An Thành Công, khởi đầu cho việc phong tặng tước hiệu cho tăng nhân. Nhưng ngài Pháp Quả kiên quyết từ chối chẳng nhận. Nguyên Đế cũng đã nhiều lần đích thân đến trụ xứ của ngài để thưa hỏi Phật pháp. Từ đó có thể thấy được tín tâm lễ kính Phật pháp và cao tăng của Nguyên Đế. Sau đó không lâu, ngài Pháp Quả viên tịch, thọ hơn 80 tuổi, lúc chưa tẩm liệm, Nguyên Đế đã ba lần đến viếng, truy tặng Lão Thọ Tướng Quân, Việt Hồ Linh Công. Sau đó cho con cháu được kế thừa tước hiệu này.
Đạo Võ Đế, Minh Nguyên Đế triều Bắc Ngụy tôn sùng Phật giáo, khiến cho thế lực của Phật giáo tại phương Bắc ngày càng tăng mạnh, dần dần hình thành một lực lượng xã hội lớn không thể xem thường. Điều này tất nhiên khiến cho sự mâu thuẫn giữa Phật giáo và tư tưởng văn hóa truyền thống, chánh trị thế tục của Trung Quốc ngày càng sâu đậm.
Năm 424, Thái Võ Đế tân là Thác-bạt Đảo kế vị. Các sử đều ghi rằng lúc mới lên ngôi, Thái Võ Đế cũng đi theo sự nghiệp của Đạo Võ và Minh Nguyên, thường đàm luận Phật pháp với các cao tăng đại đức. Hơn nữa, vào ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4 hàng năm, Thái Võ Đế thường ban sắc cung nghinh tượng Phật diễu hành qua các phố lớn trong kinh thành, còn tự thân lên lầu xem xét việc rải hoa cúng dường. Sau khi lên ngôi không bao lâu, Võ Đế xuất quân ra Hà Tây, bình định Lương Châu, đón một số lớn tăng lữ về Bình Thành, khôi phục các danh lam thắng tích, đồng thời xây dựng chùa Tông Chánh ở Nghiệp Thành. Do đó có thể biết, vào thời kì đầu Thác-bạt Đảo không có ác ý với Phật giáo, mà còn có thể nói ông đã qui y Tam bảo. Các sử cho rằng về già Võ Đế quan tâm đến võ công, lấy việc bình định loạn lạc làm đầu. Tuy ông ta có tâm sùng tín Phật pháp, kính trọng sa-môn, nhưng chưa xem kinh giáo, nên không thể hiểu được yếu nghĩa nhân duyên quả báo … của Phật pháp.
Khi mới thành lập, triều Bắc Ngụy muốn mở rộng bờ cõi, củng cố bộ máy thống trị, nên cần phải có quân binh phu dịch, lương thực, thuế má đầy đủ. Nhưng theo thể lệ các triều trước, sa-môn Phật giáo được miễn những điều ấy, làm ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, vật lực của triều đại phong kiến. Do đó, vào năm 438 (niên hiệu Thái Duyên thứ tư), Thái Võ Đế hạ chiếu cưỡng ép sa-môn dưới 50 tuổi phải hoàn tục để bổ sung vào quân đội. Đồng thời, Võ Đế lại chú trọng Nho học, muốn sử dụng văn hóa truyền thống tiền tiến của Trung Nguyên và chế độ chính trị để củng cố đế quyền của mình, đồng thời tranh thủ sự hợp tác của các tầng lớp sĩ phu và địa chủ người Hán. Từ mục đích này mà Thái Võ Đế đã dễ dàng chịu ảnh hưởng của Đạo giáo mà sĩ phu Hán tộc đã chú trọng.
Tín đồ Đạo giáo tôn Lão tử, giáo của mình là Quốc sư, gọi Phật giáo là giáo của Tây Nhung, gọi Phật là Hồ thần, chủ trương thuật trường sanh bất lão. Tất cả các điều này đều nhằm tạo ảnh hưởng trực tiếp đến Thái Võ Đế. Hơn nữa, bấy giờ trong triều có Tư Đồ Thôi Hạo xuất thân từ danh gia vọng tộc, làu thông kinh sử, giỏi thuật âm dương ngũ hành và toán số, thường được phép tham dự nghị bàn các việc quân cơ quan trọng. Thôi Hạo lạo sùng tín Thiên Sư Đạo của Khấu Khiêm Chi, bài xích Phật giáo. Trong lúc tiếp xúc luận đàm với Thái Võ Đế, Thôi Hạo thường hủy báng Phật pháp, cho Phật pháp là giả dối, hoang đường; là một mối họa lớn cho quốc gia. Do bị ảnh hưởng trực tiếp từ Thôi Hạo mà Thái Võ Đế dần dần tin vào Thiên Sư Đạo của Khấu Khiêm Chi. Khiêm Chi tự là Phủ Chân, thuở nhỏ đã thích tiên đạo, chuyên tu theo Ngũ Đấu Mễ Đạo do Trương Lăng, Trương Hành, Trương Lỗ cuối đời Hán sáng lập; lại theo các phương sĩ vào Hoa Sơn, Tung Sơn tu luyện. Theo lời truyền, Khiêm Chi được Thái Thượng Lão Quân trao cho địa vị Thiên sư và bộ Vân Trung Âm Tụng Tân Khoa Chi Giới 20 quyển. Đồng thời bảo Khiêm Chi chỉnh đốn lại Đạo giáo, trừ dẹp ngụy pháp của ba người họ Trương, và truyền cho thuật nam nữ hợp khí. Lại cho rằng Khiêm Chi được huyền tôn của Lão Tử là Lý Phổ Văn trao cho Lục Đồ Chân Kinh hơn 60 quyển. Phổ Văn yêu cầu Khiêm Chi phò giúp Thái Bình Chân Quân truyền bá Đạo giáo, xây dựng am quán v.v. … Vào cuối đời Nguyên Minh Đế, Khấu Khiêm Chi rời Tung Sơn đến Bình Thành, kết giao với Thôi Hạo, sáng tối cùng nhau luận đàm về các sự tích trị loạn xưa nay. Khiêm Chi thường than rằng: “Ta chuyên tu đạo, chỉ ẩn cư mà không màng đến thế lợi, nhưng vì sự phó thác của thần nên cần phải học thêm Nho thuật để phò giúp Thái Bình Chân Quân, tiếp nối dòng đạo đã nghìn năm tuyệt dứt”. Thôi Hạo cũng soạn hơn 20 thiên, cùng với Khiêm Chi kẻ xướng người hòa.
Khoảng trước sau năm 424, (tức niên hiệu Thủy Quan thứ nhất), thông qua Thôi Hạo, Khiêm Chi dâng lên Thái Võ Đế bộ sách của Đạo giáo, Thôi Hạo suy cử rằng: “Xưa nay các bậc thánh vương nhận lãnh mệnh trời đều có điềm lành ứng hiện. Nay có một tiên nhân đạo đức trong sáng đang ẩn cư, chẳng mời mà tự đến, thật phù hợp với việc ứng thiên mệnh của bệ hạ. Nhất thiết không nên tin theo lời lẽ thường tình của thế tục mà xem thường mệnh trời linh ứng”.
Sau khi nhận được đạo thư, Thái Võ Đế liền tin phụng Đạo giáo. Ông ta không chỉ kính Phụng Khiêm Chi là Thiên sư mà còn đưa hơn bốn mươi đệ tử của Khiêm Chi về kinh, lập đạo tràng Thiên Sư ở phía nam kinh thành để tế tự lễ bái, lại sai người mang ngọc, lụa, ba con vật đến tế thần Tung Sơn. Từ đó về sau, Khiêm Chi thường xuyên tham dự triều chính. Năm 441 Khiêm Chi tâu:
- Bệ hạ là Chân Quân ngự ở thế gian, từ xưa đến nay chưa từng có. Vì thế cần phải lên đàn nhận “Phù” để làm sáng tỏ thánh đức!”.
Võ Đế nghe theo, đổi niên hiệu là Thái Bình Chân Quân, sai người lập Đạo đàn. Qua năm sau, Đế lên đàn nhận “Phù lục” tuyên dương khắp thiên hạ. Được sự tín phụng của Thái Võ Đế, Đạo giáo đã phát triển toàn diện, thế lực ngày càng lớn mạnh. Khấu Khiêm Chi v.v. … lại không ngừng khích động nhằm khiến Thái Võ Đế tiến hành bài xích Phật giáo. Tháng giêng năm 444, tức niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ năm, Võ Đế ban chiếu rằng:
“Hàng ngu dân vì không biết mà tin lầm yêu tà, nuôi dưỡng các vu sư (người chiêm tinh bói toán), cất giữ sách sấm kí, âm dương, đồ thư, phương kỉ; lại có các sa-môn Phật giáo mượn sự hoang đảng của Tây Nhung (Tây Trúc) để phát sinh điều xấu ác. Vì thế từ vương công cho đến thứ dân không được nuôi dưỡng sa-môn, vu sư trong nhà, nếu đến kì hạn mà không giao nộp thì tội chết chẳng tha.”
Xét chiều thư này, Võ Đế chỉ cấm nuôi dưỡng sa-môn và vu sư, cấm cất giữ các sách âm dương, đồ thư, sấm kí; chủ yếu là đối trị việc mưu phản của thần dân. Bởi vì năm trước có xảy ra sự kiện thừa tướng Trương Tung cầu tìm đồ thư sấm kí để mưu phản. Đồng thời cũng từ đó mà biết rằng Võ Đế bài xích Phật giáo chỉ vì cho Phật giáo là một tôn giáo ngoài bang mà chưa đề cập đến Đạo giáo. Như thế, đủ thấy việc ban hành chiếu thư này có liên quan đến việc Đạo giáo tiến hành khích động để tranh thủ ân sủng của Võ Đế.
Năm 445, nhằm niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ 6, một người Hồ ở Lô Thủy là Cái Ngô tập hợp đồ chúng khởi nghĩa tại Hành Thành (nay là Hoàng Lăng, Thiểm Tây), dựng ngọn cờ đấu tranh võ trang phản kháng sự thống trị của triều đình Bắc Ngụy, được nhân dân Hán, Hồ ở các vùng Thiểm Tây, Cam Túc nhiệt liệt hưởng ứng, vì thế tạo được một lực lượng rất lớn mạnh. Qua năm sau, Thái Võ Đế thân chinh thống lãnh binh mã đến Trường An, chỉ huy trấn áp cuộc khởi nghĩa của Cái Ngô. Trong thời gian ở Trường An, một hôm ngẫu nhiên Võ Đế phát hiện trong một ngôi chùa có cất chứa binh khí, số lượng lớn vật dụng nấu rượu và nhiều tài vật khác của các nhà giàu gởi. Đồng thời trong mật thất của chùa có rất nhiều phụ nữ ẩn núp. Việc phát hiện này đã tạo thành nguyên nhân trực tiếp châm ngòi cho Thái Võ Đế hủy diệt Phật pháp. Ông ta cho rằng sa-môn không được tàng trữ vũ khí, vậy sa-môn ở Trường An nhất định liên kết với Cái Ngô, lại còn cất chứa vật dụng nấu rượu và phụ nữ là vi phạm giới luật. Do đó, từ sự kiến nghị của Thôi Hạo, Võ Đế ban lệnh giết hết sa-môn, đập phá tôn tượng, thiêu đốt kinh điển. Đồng thời, ban sắc cho quan lưu thú Bình Thành là thái tử Thác-bạt Hoảng hạ lệnh cho các châu huyện khắp nơi làm theo Trường An, đồng hủy diệt Phật pháp.
Thái tử Thác-bạt Hoảng vốn tin phụng Phật pháp, sau khi nhận lệnh của Thái Võ Đế, đã nhiều lần dâng biểu cầu xin, nhưng Võ Đế kiên quyết chẳng chịu, mà còn nói rằng: “Phật giáo là giáo của ngoại bang, chẳng gần gũi nhân tình. Do Phật giáo thịnh hành mà chánh giáo không sáng tỏ, lễ nghi bị bại hoại, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều triều đại. Do đó Quân hầu, Thứ sử của các trấn cần phải đốt phá tất cả kinh tự Phật giáo, chôn sống tất cả sa-môn chẳng kể già trẻ, không nên lưu tình”.
Chiếu thư này đã biểu lộ dã tâm tận diệt Phật giáo của Võ Đế. Nhưng Lưu Thú Bình Thành trì hoãn việc tuyên chiếu thư, tạo cơ hội cho phần lớn sa-môn các nơi lẩn trốn, cất giấu kinh tượng. Cuối cùng chỉ có một số chùa tháp bị phá hủy. Nhưng còn một số sa-môn bị quân binh chia nhau vây bắt, cưỡng bức bỏ đạo; nếu ai trốn thoát, mà lại bị bắt thì bị chém đầu hoặc chôn sống. Vì thế trong cả nước không còn thấy bóng dáng sa-môn. Thái Võ Đế diệt Phật lần này, chính là tai họa đầu tiên của Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc, nó có căn nguyên lịch sử xã hội rất sâu xa. Trước hết, lần diệt Phật này là kết quả tất nhiên từ sự mâu thuẫn sâu sắc giữa Phật giáo và chính trị thế tục. Phật giáo truyền vào Trung Hoa vào thời Lưỡng Hán, sau đó trải qua mấy trăm năm lưu truyền và phát triển, dần dần hình thành một lực lượng lớn có thế lực trong xã hội. Số lượng tăng lữ đông làm ảnh hưởng đến binh lực và nguồn thu nhập của triều đình phong kiến. Kế đến là lập nhiều chùa viện, được cấp nhiều ruộng đất canh tác, hình thành chế độ kinh tế tự viện có quy mô, việc này phát sinh mâu thuẫn với nền kinh tế thế tục thời phong kiến. Ngoài ra còn có một số tăng nhân tham dự vào việc chính trị quan trọng của nhà nước phong kiến, trong một chừng mực nào đó đã ảnh hưởng đến quyết sách của chánh trị … từ các phương diện ấy, nếu chẳng phối hợp một cách hợp lí thì nhất định xẽ xảy ra sự xung đột mãnh liệt.
Kế đến, lần diệt Phật này là kết quả tất nhiên từ sự xung đột mạnh giữa Đạo giáo và Phật giáo. Từ thời Lưỡng Tấn, sự mâu thuẫn hoặc âm thấm hoặc biểu lộ giữa Phật và Đạo chưa bao giờ ngừng dứt. Đến thời Võ Đế triều Bắc Ngụy, Thôi Hạo … mượn thế lực của triều đình để đả kích Phật giáo. Có thể thấy, Võ Đế diệt Phật hủy pháp vừa có tính chất chính trị thế tục phong kiến phản kích Phật giáo, lại có tính chất Đạo giáo đả kích Phật giáo.
Năm 448, Khấu Khiêm Chi qua đời. Năm 450 tức niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ 11, Tư đồ Thôi Hạo bị tru diệt. Hai năm sau, Thái Võ Đế bị một thái giám giết chết, Văn Thành Đế Thác-bạt Duệ bấy giờ mới 13 tuổi lên kế vị, hạ chiếu phục hưng Phật pháp. Nội dung chiếu thư là Thành Đế ca ngợi Phật giáo phò giúp vương quyền, làm tăng trí nhân, dẹp tá ác, mở đường chánh giác. Cho rằng việc diệt Phật pháp của Võ Đế là do quan lại các cấp hiểu sai thánh chỉ của Hoàng đế dẫn đến. Đồng thời lệnh cho quận huyện các châu xây dựng lại chùa tháp, cho phép trăm họ xuất gia, qui định trong một châu lớn được 50, châu nhỏ được 40 người … Từ đó, hình dáng sa-môn hiện diện khắp Bắc Ngụy, chùa tháp nhanh chóng được khôi phục, tượng Phật được tôn tạo, kinh điển lại lưu thông.
Đồng thời với việc khôi phục Phật pháp, Thành Đế còn vì sự phát triển của Phật pháp mà ban cho một nguồn kinh tế rất ổn định. Như trong khoảng từ năm 460-465, suy cử ngài Đàm Diệu làm sa-môn Thống (giống Đạo nhân thống), quản lí các việc về Tăng ni trong cả nước. Ngài Đàm Diệu tâu xin những hộ nông dân vốn là tù binh mỗi năm nộp cho Tăng Tào (cơ quan quản lí chùa viện của chính phủ) 60 hộc lúa để Tăng Tào chi dùng. Văn Thành Đế chuẩn tấu. Những hộ dân này gọi là Tăng Kì Hộ, lúa này gọi là Tăng Kì Lật. Ngài Đàm Diệu lại xin cho những người phạm trọng tội và nô dịch của quan về làm Phật Độ Hộ để quét dọn và làm các việc trong chùa viện. Văn Thành Đế cũng đồng ý. Như thế, sự khôi phục và phát triển Phật giáo thời Bắc Ngụy đã có một nền móng vững chắc tất yếu.
Trong thời gian làm Sa-môn Thống, ngài Đàm Diệu đã chỉ đạo việc khai đục năm hang động tại Bình Thành, Vũ Châu, mỗi nơi tạo một tượng Phật cao từ 60 đến 70 thước, khởi đầu cho việc tạo lập các hang động Phật giáo tại Đại Đồng Vân Cương.
Sau Văn Thành Đế thì Hiến Văn Đế, Hiếu Văn Đế, Tuyên Võ Đế, Hiếu Minh Đế đời Bắc Ngụy đều mến mộ Phật pháp. Những vị vua này hoặc ban chiếu lập chùa, hoặc lập pháp hội, hoặc tạo hang động … khiến Phật giáo khôi phục nhanh chóng. Theo các sử thì vào cuối đời Bắc Ngụy, toàn quốc có hai triệu tăng ni, ba mươi ngàn ngôi chùa viện. Nhìn chung, Phật giáo vào thời Bắc Ngụy, tuy có pháp nạn Võ Đế, nhưng được khôi phục và phát triển rất nhanh. Sự nhanh chóng của quá trình diệt vong và hưng khởi thật vượt ra ngoài sự dự liệu của con người; biểu thị rằng Phật giáo lúc bấy giờ đã trải qua một thời kì xã hội xác thực biến động.
nguồn: tuvienhuequang
Bài viết liên quan: