Giới thiệu chung:
Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, trong các nỗ lực làm hạn chế dịch bệnh do vi khuẩn gây ra ở cá tra, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II và Công ty Thuốc thú y trung ương (Navetco) đã thực hiện đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu vắcxin phòng bệnh nhiễm khuẩn cho cá tra, cá ba sa, cá mú, cá giò, cá hồng mỹ nuôi công nghiệp", trong đó đối tượng được quan tâm đặc biệt là cá tra.
Nội dung:
I- Nhóm ký sinh trùng:
1- Bệnh Trùng bánh xe:
Nguyên nhân: Do trùng bánh xe Trichodina ký sinh ở da và mang cá, bệnh thường phát triển vào những ngày trời không nắng, âm u hoặc mưa kéo dài. Chỉ thấy được dưới kính hiển vi.
- Triệu chứng: màu sắc cá nhợt nhạt, thân cá có nhiều nhớt màu trắng đục; đuôi, vây bị xơ mòn, bơi lội không định hướng, thân cọ vào cây cỏ như bị ngứa.
- Trị bệnh: Có nhiều loại hóa chất có thể dùng để chữa trị bệnh này, ở đây xin giới thiệu hai phương pháp chữa trị an toàn mà hiệu quả lại khá tốt, đó là: Tắm cá: Dùng muối ăn (NaCl) với nồng độ 2-3% tắm cho cá 5-10 phút hoặc dùng CuSO4 (phèn xanh) với nồng độ 3-5 ppm (3-5g/m3 nước) tắm cho cá 5-10 phút
2- Bệnh Sán lá đơn chủ:
- Tác nhân gây bệnh: Do sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus) hoặc 18 móc (Gyrodactylus) ký sinh vào da và mang cá (chỉ nhìn thấy dưới kinh hiển vi).
- Triệu chứng: Cá bệnh thường hô hấp kém; tổ chức da và mang bị sán ký sinh sẽ viêm loét, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm gây bệnh.
- Trị bệnh: Tắm cá trong nước muối 3% trong 3-5 phút. Hay phormol (15-20ml/m3)
II- Bệnh do vi khuẩn
1- Bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Eromonas:
- Đối tượng nhiễm bệnh: Các loại cá nuôi nước ngọt: Cá tra, cá basa, cá trê, cá điêu hồng, cá bống tượng, cá tai tượng...
- Dấu hiệu bệnh lý: Cá bệnh bị sẫm màu từng vùng ở bụng, Xuất hiện từng mảng đỏ trên cơ thể. Hoại tử đuôi, vây, xuất hiện các vết thương trên lưng, các khối u trên bề mặt cơ thể. Mắt lồi, mờ đục và phù ra. Xoang bụng chứa dịch, nội tạng hoại tử.
- Phòng trị bệnh: Tránh làm xây xát cá, nuôi mật độ nuôi quá dày. Dùng thuốc tím tắm cá, liều dùng là 4g/m3 nước đối với cá nuôi ao và 10g/m3 nước đối với cá nuôi bè. Xử lý lập lại sau 3 ngày, định kỳ tắm cá một tuần, hai tuần hoặc một lần/tháng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khỏe cá. Dùng thuốc trộn vào thức ăn:
* Oxytetracyline: 55-77 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7-10 ngày, nên hạn chế sử dụng. Kanamycin: 50 mg/kg cá nuôi, cho ăn 7 ngày.
* Nhóm Sulfamid: 100-200 mg/kg, cho ăn 10-20 ngày.
2. Bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Pseudomonas:
- Đối tượng nhiễm bệnh: Các loài cá nuôi nước ngọt: cá tra, cá basa, cá trê, cá bống tượng, cá tai tượng...
- Dấu hiệu bệnh lý: Xuất huyết từng đốm nhỏ trên da, chung quanh miệng và nắp mang, phía mặt bụng. Bề mặt cơ thể có thể chảy máu, tuột nhớt nhưng không xuất huyết vây và hậu môn. Bệnh này thường liên quan đến các stress, các thương tổn da, vẩy do các tác nhân cơ học, nuôi với mật độ cao, dinh dưỡng kém, hàm lượng ôxy giảm
- Phòng trị:
* Giảm mật độ nuôi,
* Cung cấp nguồn nước tốt,
* Tắm 3-5g/m3 KMnO4 không qui định thời gian,
* Có thể dùng các loại kháng sinh để điều khi như trong bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas.
3- Bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Edwardsiella
- Đối tượng nhiễm bệnh: Các loài cá nuôi nước ngọt: Cá tra, cá basa, cá trê, cá điêu hồng (cá rô phi đỏ), cá rô phi, cá bống tượng, cá tai tượng, cá chép...
- Dấu hiệu bệnh lý: Xuất hiện những vết thương nhỏ trên da (phía mặt lưng), đường kính khoảng 3-5mm, những vết thương này sẽ phát triển thành những khối u rỗng bên trong cơ, da bị mất sắc tố. Cá mắc bệnh sẽ mất chức năng vận động do vây đuôi bị tưa rách. Bệnh thường xảy ra trên cá lớn (do vi khuẩn Edwardsiella tarda gây ra)
- Một loại vi khuẩn khác có tên Edwardsiella ichtaluri gây bệnh đốm trắng trên gan cá tra (mủ gan) rất nguy hiểm và tỷ lệ hao hụt rất cao.
- Bệnh xuất hiện khi chất lượng nước trong môi trường nuôi xấu, nuôi với mật độ dày, nhiệt độ thích hợp để bệnh phát triển khoảng 30oC. Tuy nhiên bệnh cũng xuất hiện khi nhiệt độ nước thấp hơn và dao động bất thường.
- Phòng trị: Cải tiến chất lượng nước trong môi trường nuôi, không thả mật độ quá dày. Có thể dùng các loại kháng sinh đặc trị cho bệnh này.
* Biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh:
- Chuẩn bị ao: Chuẩn bị ao nuôi hợp lý sẽ bảo đảm môi trường ương nuôi thích hợp không nhiễm bệnh và điêù kiện nước tốt. Khi lấy nước vào ao phải hết sức cẩn thận, dùng lưới lọc hoặc các dụng cụ khác để lọc nước vào ao.
- Cá bố mẹ nuôi tại cơ sở có sự kiểm dịch định kỳ. Cá bột giống trước khi đưa đến nơi nuôi thương phẫm phải được kiểm tra dịch bệnh (virut, vi khuẩn và ký sinh trùng…) và dư lượng hóa chất, kháng sinh...
- Kiểm soát nguồn nước là quản lý chất lượng nước và người quản lý cơ sở phải cập nhât thông tin và theo dỏi môi trường nước bằng dụng cụ đo nhanh hoặc các dụng cụ khác để đo: Nhiệt độ, Amonia, pH, kim loại nặng… Nguồn nước trước khi đưa vào môi trường nuôi phải được xử lý hoặc khử trùng để tiêu diệt các mầm mống gây tổn hại đến sức khỏe cá trong ao .
- Kiểm tra và phát hiện bệnh kịp thời. Gửi mẫu cá đến cơ quan có chức năng xét nghiệm định bệnh để có biện pháp trị đúng kịp thời.
- Trong quá trình nuôi, có hiện tượng nhiễm bệnh, người nuôi tuyệt đối không được tháo nước ao nuôi ra môi trường xung quanh, cần báo cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trên địa bàn để tìm cách khắc phục và thực hiện nghiêm túc các yêu cầu của cơ quan chức năng trong việc xử lý dịch bệnh.
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc dùng thuốc thú y, hóa chất và chế phẩm sinh học trong quá trình ương nuôi. Sử dụng thuốc thú y, hóa chất và chế phẩm sinh học phải thực hiện đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cơ quan chuyên môn; Tuyệt đối không được sử dụng các loại thuốc thú y, hóa chất và chế phẩm sinh học thuộc danh mục cấm do Bộ Thủy sản quy định. Các loại hóa chất và chế phẩm vi sinh sử dụng được qui định trong danh mục của Bộ Thủy sản và Bộ Y tế về liều lượng cũng như thời gian sử dụng, đảm bảo an toàn cho người và sinh vật. (danh mục thuốc cấm và được sử dụng của Bộ Thủy Sản).Bài viết liên quan: